Hỗ trợ giảm lượng đường trong máu, hỗ trợ giảm biến chứng cho tiểu đường

Đái tháo đường là gì? Nguyên nhân, triệu chứng và các biến chứng nguy hiểm

Đái tháo đường là một rối loạn mạn tính, có những thuộc tính: Tăng glucose máu; Kết hợp với những bất thường về chuyển hóa carbonhydrat, lipid và protein; Bệnh luôn gắn liền với xu hướng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và các bệnh tim mạch khác.

Bệnh Đái tháo đường là gì?

Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh.

Đái tháo đường là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến trên toàn cầu. Trên toàn thế giới có 415 triệu người lớn (độ tuổi 20-79) tương đương 1 trong 11 người lớn đang sống với bệnh đái tháo đường trong năm 2015. Dự đoán vào năm 2040, con số này sẽ tăng tới khoảng 642 triệu người, hay nói cách khác 1 người trong 10 người lớn sẽ có bệnh đái tháo đường .

Tuy nhiên, gần một nửa số người đang sống với bệnh đái tháo đường (độ tuổi 20-79) không được chẩn đoán (46,5%), tỷ lệ này ở khu vực Tây Thái Bình Dương là 52.1% . Nhiều người đang sống với bệnh ĐTĐ típ 2 trong một thời gian dài mà không nhận biết được tình trạng bệnh của họ. Đến khi được chẩn đoán, thường đã kèm theo các biến chứng của bệnh. Thật lạc quan, thực hiện lối sống lành mạnh có thể phòng ngừa được 70% đái tháo đường típ 2 và ăn uống lành mạnh có thể giúp giảm nguy cơ của đái tháo đường .

Tại Việt Nam, vào năm 2015 đã có 3,5 triệu người mắc bệnh báo cáo của Hiệp hội đái tháo đường thế giới IDF Diabetes Atlas, và con số này được dự báo sẽ tăng lên 6,1 triệu vào năm 2040. Theo kết quả điều tra năm 2015 của Bộ Y tế, 68,9% người tăng đường huyết chưa được phát hiện. Chỉ có 28,9% người bệnh ĐTĐ được quản lý tại cơ sở y tế . Đây thực sự là khoảng trống lớn về sự chênh lệch giữa nhu cầu và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Các yếu tố nguy cơ

Đái tháo đường týp 1
Các yếu tố nguy cơ của đái tháo đường típ 1 vẫn đang được nghiên cứu. Tuy nhiên, khi có một thành viên trong gia đình mắc đái tháo đường típ 1, làm tăng nhẹ nguy cơ phát triển bệnh. Các yếu tố môi trường và phơi nhiễm với một số vi rút cũng là mối quan đối với nguy cơ phát triển đái tháo đường típ 1 .

Đái tháo đường týp 2

Một số yếu tố nguy cơ kết hợp gây đái tháo đường típ 2, bao gồm:
– Tiền sử gia đình có đái tháo đường
– Tiền sử đái tháo đường thai kỳ
– Tuổi cao
– Dân tộc
– Chế độ ăn uống không lành mạnh
– Chế độ dinh dưỡng kém trong thời kỳ mang thai
– Hạn chế hoạt động thể lực
– Thừa cân
– Tăng huyết áp
– Rối loạn dung nạp glucose (IGT): là tình trạng đường huyết cao hơn bình thường, nhưng dưới ngưỡng chẩn đoán đái tháo đường.

Những thay đổi về chế độ ăn uống và hoạt động thể lực liên quan đến sự phát triển nhanh chóng và đô thị hóa đã dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ số người mắc đái tháo đường.

Phụ nữ mang thai có thừa cân, đã được chẩn đoán rối loạn dung nạp glucose, hoặc có tiền sử gia đình mắc bệnh đái tháo đường, đều có nguy cơ cao phát triển đái tháo đường thai kỳ (GDM). Ngoài ra, trước đây đã được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ hoặc thuộc nhóm dân tộc nhất định, có nguy cơ gia tăng phát triển đái tháo đường thai kỳ.

Bệnh Đái tháo đường có mấy loại?

Đái tháo đường týp 1: Loại bệnh ĐTĐ này thường gặp ở trẻ em, nhưng cũng có thể xảy ra ở người trưởng thành. Người mắc Đái tháo đường týp 1, cơ thể không thể sản xuất insulin. Nguyên nhân là do hệ thống miễn dịch của cơ thể nhầm lẫn đã tấn công các tế bào bêta trong tuyến tuỵ làm cho tế bào này không còn sản xuất được insulin. Khi không có insulin cơ thể sẽ không sử dụng được glucose, do đó glucose trong máu sẽ tăng rất cao. Người bệnh cần được tiêm insulin để duy trì cuộc sống.

Đái tháo đường týp 2: Đây là loại ĐTĐ thường gặp, chiếm tỉ lệ cao nhất (khoảng 90%). Giai đoạn đầu, ở người bệnh ĐTĐ týp 2, tế bào bêta tụy vẫn còn sản xuất insulin, nhưng các tế bào của cơ không thể sử dụng nó để đưa glucose vào trong tế bào – nơi chuyển hóa glucose thành năng lượng để nuôi cơ thể (hiện tượng đề kháng insulin). Bệnh tiến triển dần dần, theo thời gian, glucose sẽ tăng cao trong máu. Bệnh thường liên quan đến béo phì và ít vận động, béo phì và ít vận động làm tăng nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ týp 2.

Đái tháo đường thai kỳ: Thể ĐTĐ xảy ra ở phụ nữ mang thai và đa số bệnh tự hết sau khi sinh. Tuy vậy, nếu mắc ĐTĐ thai kỳ có thể gây ra các vấn đề trong quá trình mang thai. Phụ nữ mắcĐTĐ thai kỳ có nhiều khả năng phát triển thành bệnh ĐTĐ týp 2 sau này.

Các thể đái tháo đường khác: Do sỏi tụy, do thuốc, hóa chất, do các bệnh nội tiết khác,…

Triệu chứng của bệnh Đái tháo đường là gì?

Triệu chứng chung:

– Khát, uống nhiều

– Đi tiểu thường xuyên, đặc biệt ban đêm

– Mệt mỏi, uể oải không rõ nguyên nhân

– Sút cân

Đối với ĐTĐ týp 1: Có thể có các biểu hiện đi kèm như nhiễm nấm, viêm đường tiết niệu. Các triệu chứng ít gặp hơn là : Chuột rút, táo bón, nhìn mờ, nhiễm trùng da tái diễn…

Đối với ĐTĐ týp 2: Các triệu chứng có thể không được nhận ra trong nhiều năm. Thường chỉ tới khi có biến chứng như loét chân hoặc nhìn mờ thì bệnh mới được chẩn đoán. Nên nhớ, các triệu chứng giai đoạn đầu thường mờ nhạt, các dấu hiệu không xuất hiện cùng lúc.

Vì thế, cần phải xác định xem mình có yếu tố nguy cơ không để kiểm tra nhằm phát hiện sớm bệnh ĐTĐ; tốt nhất nên xét nghiệm máu để được chẩn đoán ngay trong giai đoạn tiền ĐTĐ.

Các biến chứng của bệnh Đái tháo đường

Ngay tại thời điểm được chẩn đoán, người ĐTĐ có thể đã mắc các biến chứng ; Mức độ biến chứng ĐTĐ nặng dần theo thời gian mắc bệnh. Nếu không được điều trị tốt, biến chứng có thể làm người bệnh tàn phế, thậm chí tử vong.

Người ĐTĐ có thể bị một hay nhiều biến chứng sau :
1. Biến chứng cấp tính: Do đường huyết tăng cao, có thể gây hôn mê nhiễm cetone hay hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu. Nếu không được điều trị kịp thời có thể dẩn đến tử vong. Hạ đường huyết là biến chứng cấp tính, thường do quá liều thuốc, đặc biệt quá liều insulin gây nên. Có thể do bệnh nhân nhịn đói, kiêng khem quá mức hay do uống nhiều rượu. Nếu không được điều trị kịp thời có thể hôn mê và thậm chí tử vong.
2. Biến chứng mạn tính:
Biến chứng tim mạch: ĐTĐ làm tăng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim, đột quị, tai biến mạch máu não và bệnh mạch máu ngoại biên đưa đến phải cắt cụt chi.

Biến chứng mắt: Bệnh lý võng mạc do ĐTĐ là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa, giảm thị lực.
Biến chứng thận: Là biến chứng mạn tính thường gặp của ĐTĐ, gây bệnh thận giai đoạn cuối, suy thận. Điều trị cần chạy thận nhân tạo hay thẩm phân phúc mạc để duy trì cuộc sống.

Suy giảm cương dương: rối loạn cương dương xuất hiện ở những người mắc bệnh đái tháo đường, đặc biệt là người không kiểm soát tốt đường huyết. Nghiên cứu thống kê cho thấy độ tuổi khởi phát rối loạn cương dương ở bệnh nhân nam bị đái tháo đường là sớm hơn 10 – 15 năm so với người bình thường.

Biến chứng bàn chân: Tổn thương thần kinh ngoại biên do ĐTĐ gây mất cảm giác ở chân, hay dị cảm, tê bì, gây đau nhức,… bàn chân bị biến dạng, tăng áp lực dẫn đến chai chân lâu dần sẽ loét, nếu kèm theo nhiễm trùng sẽ dẫn tới nguy cơ phải cắt cụt

Đái tháo đường là một căn bệnh mãn tính nên bạn không thể chữa khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên, nếu được chẩn đoán và điều trị kịp thời, bạn vẫn có thể sống khỏe mạnh, lạc quan cùng căn bệnh này.

Cách kiểm soát glucose máu nói riêng, và bệnh đái tháo đường nói chung, là áp dụng chế độ dinh dưỡng lành mạnh, tăng cường tập thể dục, nghỉ ngơi thư giãn và tuân thủ chỉ định của bác sĩ.

Dinh dưỡng hợp lý để phòng bệnh

Hiện tại, đái tháo đường típ 1 không thể dự phòng được. Mặc dù có một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của đái tháo đường típ 2, nhưng rõ ràng ảnh hưởng nhất là những hành vi lối sống thường gắn với đô thị hóa. Bao gồm sử dụng thực phẩm chế biến sẵn, như đồ uống có đường, thực phẩm có hàm lượng chất béo cao và carbohydrate tinh chế cao. Đồng thời, lối sống hiện đại được đặc trưng bởi sự không hoạt động và thời gian tĩnh tại dài. Các hành vi này cùng phối hợp làm tăng nguy cơ thừa cân hoặc béo phì và sự phát triển của đái tháo đường típ 2.

Một số chương trình dự phòng đã chỉ ra việc thay đổi các hành vi, như ăn thực phẩm lành mạnh hơn và tăng cường hoạt động thể lực có thể làm giảm đáng kể nguy cơ mắc đái tháo đường típ 2. Để ngăn chặn sự gia tăng của đái tháo đường típ 2, toàn thể cộng đồng phải thay đổi hành vi sống bằng cách thay đổi chế độ ăn uống và tăng mức độ hoạt động thể lực.

Hiệp hội Đái tháo đường Thế giới đã tổng hợp các bằng chứng về loại thực phẩm có thể gây ra đái tháo đường típ 2 và đã đưa ra 9 khuyến nghị về chế độ ăn uống lành mạnh cho mọi người nói chung.

1) Chọn nước, cà phê hoặc trà thay vì chọn nước ép trái cây có đường, ngọt, nước ngọt, hoặc đồ uống có đường khác.
2) Ăn ít nhất 3 suất rau mỗi ngày, kể cả rau xanh lá.
3) Ăn tối đa ba suất trái cây tươi mỗi ngày.
4) Chọn một miếng trái cây tươi, hoặc sữa chua không đường cho bữa ăn nhẹ.
5) Hạn chế đồ uống có cồn
6) Chọn thịt nạc trắng, thịt gia cầm hoặc hải sản, thay vì thịt đỏ hoặc thịt chế biến sẵn.
7) Chọn bơ đậu phộng thay vì sô cô la hoặc mứt.
8) Chọn bánh mì, gạo hoặc mì ống nguyên cám thay vì bánh mì trắng, gạo hoặc mì ống.
9) Chọn chất béo không no (dầu ô liu, dầu canola, dầu ngô, hoặc dầu hướng dương) thay vì chất béo bão hòa (bơ, chất béo động vật, dầu dừa hoặc dầu cọ)

Vận động thể lực để phòng bệnh

Hiện tại, đái tháo đường típ 1 không thể dự phòng được. Mặc dù có một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của đái tháo đường típ 2, nhưng rõ ràng ảnh hưởng nhất là những hành vi lối sống thường gắn với đô thị hóa. Bao gồm sử dụng thực phẩm chế biến sẵn, như đồ uống có đường, thực phẩm có hàm lượng chất béo cao và carbohydrate tinh chế cao. Đồng thời, lối sống hiện đại được đặc trưng bởi sự không hoạt động và thời gian tĩnh tại dài. Các hành vi này cùng phối hợp làm tăng nguy cơ thừa cân hoặc béo phì và sự phát triển của đái tháo đường típ 2.

Một số chương trình dự phòng đã chỉ ra việc thay đổi các hành vi, như ăn thực phẩm lành mạnh hơn và tăng cường hoạt động thể lực có thể làm giảm đáng kể nguy cơ mắc đái tháo đường típ 2. Để ngăn chặn sự gia tăng của đái tháo đường típ 2, toàn thể cộng đồng phải thay đổi hành vi sống bằng cách thay đổi chế độ ăn uống và tăng mức độ hoạt động thể lực.

Luyện tập thể lực

– Cần kiểm tra biến chứng tim mạch, mắt, thần kinh, biến dạng chân trước khi luyện tập và đo huyết áp, tần số tim. Không luyện tập gắng sức khi glucose huyết > 250-270 mg/dL và ceton dương tính.
– Loại hình luyện tập thông dụng và dễ áp dụng nhất: đi bộ tổng cộng 150 phút mỗi tuần (hoặc 30 phút mỗi ngày), không nên ngưng luyện tập 2 ngày liên tiếp. Mỗi tuần nên tập kháng lực 2-3 lần (kéo dây, nâng tạ).
– Người già, đau khớp có thể chia tập nhiều lần trong ngày, thí dụ đi bộ sau 3 bữa ăn, mỗi lần 10-15 phút. Người còn trẻ nên tập khoảng khoảng 60 phút mỗi ngày, tập kháng lực ít nhất 3 lần mỗi tuần.

Nguồn tham khảo:

Tạp chí Đái tháo đường

https://www.diabetes.co.uk/what-is-diabetes.html